You are currently viewing Lê Chiêu Thống

Lê Chiêu Thống

Lê Chiêu Thống tên thật là Lê Duy Khiêm hay còn được biết đến nhiều hơn với cái tên là Lê Duy Kỳ.
Nhắc đến Chiêu Thống thì phải nhắc đến cha của ông tức thái tử Lê Duy Vĩ, trưởng tôn vua Hiển Tông. Vì Duy Vĩ có hiềm khích từ thời trẻ với Trịnh Sâm và có ý tự lập nên khi Trịnh Sâm ngồi lên ngôi chúa thì cố tình vu cho Duy Vĩ tội “tư thông với thiếp của Trịnh Doanh”, Duy Vĩ trốn trong cung Hiển Tông bị Trịnh Sâm cho người lùng đến tận nơi lôi ra, sau này chết trong ngục, mẹ Lê Duy Kỳ ôm 3 đứa con thơ chạy trốn nhưng không thoát, và cả nhà 1 mẹ 3 con bị bắt giam cả.
Cuộc sống trong tù ngục của cả nhà tiếp tục trong 11 năm trời, sau đó nhờ có loạn quân Tam Phủ nên mới được thả ra. Tuy vậy, cuộc sống sau khi thả ra cũng không dễ chịu chút nào, có lúc chút nữa còn phải họa sát thân.
Sau này, Nguyễn Huệ ra Bắc với chiêu bài Phù Lê Diệt Trịnh, nhanh chóng đánh đổ Trịnh Khải. Nguyễn Huệ dùng danh nghĩa tôn phò vua Hiển Tông, rồi sau này khi vua Hiển Tông mất thì lập Lê Duy Kỳ lên ngôi vua, năm đó Chiêu Thống được 21 tuổi. Đây là lần đầu tiên dựng lại họ Lê theo như trong chiếu lên ngôi của Nguyễn Huệ.
Có lẽ tham vọng của Nguyễn Huệ lúc này chính là thay thế chúa Trịnh để nắm giữ quyền bính Bắc Hà, nhưng việc Nguyễn Nhạc ra Bắc kéo Nguyễn Huệ về đồng thời rạch ròi ra với nhà Lê thành 2 nước khiến kế hoạch của Nguyễn Huệ đổ bể. Nguyễn Huệ vét kho báu phủ chúa Trịnh rồi rút quân về Nam.
Hiển Tông trước khi chết dặn lại với Duy Kỳ rằng: “Sớm hôm sau ta cất được gánh nặng, nỗi lo âu trút vào thân cháu. Cháu phải nhớ lấy, sau khi ta nhắm mắt rồi, việc truyền nối là trọng đại, cháu nên nhất nhất bẩm báo cho Nguyễn Huệ biết, phải thận trọng, chớ có khinh suất”
Nói chung, Hiển Tông sau nhiều năm nhận ra họ Lê đã không còn sức trở mình, nên nếu muốn sinh tồn chỉ có cách nương vào thế lực mạnh nhất bài bố, ông dặn lại điều đó với Duy Kỳ mong hậu nhân nhà Lê sống nhờ vào sự khoan dung của Nguyễn Huệ, không cầu quyền lực, chỉ mong yên ổn về sau.
Tuy nhiên nhiều năm sống trong cảnh lao ngục, luôn phải nhìn mặt kẻ khác mà sống khiến một người tuổi trẻ khí thịnh như Duy Kỳ không muốn tiếp tục sống nhục như thế mà khát khao tự lập. Nhưng lòng thì có đó, sức lại không đủ, trong suốt 200 năm, họ Trịnh nắm giữ quyền hành, họ Lê vốn chẳng có gì, đến cả tiền tu sửa nơi tế tự cung đình cũng không đủ, chứ chưa cần nói những thứ sâu xa hơn là tuyển binh, mộ lính.
Và liệu rằng các sứ quân khi Nguyễn Huệ đã rút đi sẽ thực tâm tôn phò, gầy dựng lại nhà Lê? Thực tế lại rất phũ phàng, Nguyễn Huệ vừa về Nam thì các sứ quân chạy vào Thăng Long lấy cớ tôn phò để cướp bóc khắp nơi, Chiêu Thống đành bất lực, cái cảnh này thì cho dù Nguyễn Huệ để kho báu phủ chúa lại, e Duy Kỳ cũng chả có sức mà giữ nổi.
Tây Sơn rời đi khiến các thế lực của chúa Trịnh ngóc đầu trở lại, Trịnh Bồng đem binh vây phủ buộc Lê Duy Kỳ phải phong cho Trịnh Bồng làm Yến Đô Vương khôi phục cái thời vua Lê chúa Trịnh như xưa.
Trong cảnh tuyệt vọng không biết bấu víu vào đâu, Chiêu Thống đành triệu Nguyễn Hữu Chỉnh vào cứu mình. Nguyễn Hữu Chỉnh hưởng ứng lời kêu gọi, dẫn quân ra Bắc dẹp các thế lực phản đối. Nhưng rồi Hữu Chỉnh cuối cùng cũng lắc mình thành một anh chúa mới.
Việc Hữu Chỉnh ra Bắc phò Lê đưa cái cớ cho Nguyễn Huệ dẫn quân ra Bắc, bởi suy cho cùng Hữu Chỉnh lúc đấy vẫn là thuộc hạ của Nguyễn Huệ, việc một anh thuộc hạ của mình cãi lệnh ra Bắc Hà thì dẫn quân trừng phạt là chuyện tất nhiên.
Nguyễn Huệ sai Vũ Văn Nhậm dẫn quân ra diệt Chỉnh, Lê Chiêu Thống phải bỏ nước bôn vong. Nguyễn Huệ sau đó lại đích thân ra Bắc bắt Nhậm giết đi, không mất một binh một tốt. Sau khi giết Nhậm, Nguyễn Huệ ra thông cáo mời Duy Kỳ về phục vị, nhưng Lê Duy Kỳ không dám ra.
Nguyễn Huệ sau đó lập Lê Duy Cẩn làm giám quốc, Ngô Văn Sở trông coi việc quân binh Bắc Hà rồi kéo đại quân về Nam. Đây là lần tôn lập nhà Lê thứ 2 để cập trong chiếu lên ngôi của Nguyễn Huệ.
Sự kiện sau đó, có lẽ nhiều người đều biết, theo chính sử nhà Nguyễn, quân Thanh theo lời cầu viện của Chiêu Thống dẫn quân vào định xâm lược nước ta, Nguyễn Huệ thấy vậy lên ngôi đánh bại quân Thanh, truất luôn ngôi của nhà Lê, lên làm hoàng đế.
Việc Chiêu Thống cầu viện quân Thanh là có thật, thể hiện ở việc: Chiêu Thống gửi thư cầu cứu nhà Thanh, và khi quân Thanh vào nước Chiêu Thống đã rất ủng hộ việc này, những bức thư cảm kích và ủng hộ sự chính nghĩa của nhà Thanh mà Chiêu Thống viết hiện vẫn còn lưu trong thư khố tại Đài Loan. Lê Chiêu Thống cũng phải chịu một phần trách nhiệm khi đám giang hồ người Hoa ỷ thế quân Thanh cướp bóc, cưỡng hiếp dân chúng Bắc Hà mà không cản được.
Cương Mục chép việc này như sau: “Thái hậu đưa nguyên tử (con trai Chiêu Thống) đến yết kiến ở trong sân, gào khóc xin cứu viện. Bọn Sĩ Nghị tâu với vua Thanh rằng tự hoàng nhà Lê đương phải bôn ba, đối với đại nghĩa, ta nên cứu viện. Vả lại, An Nam là đất cũ của Trung Quốc, sau khi khôi phục nhà Lê, ta nhân đó, đặt lính thú để đóng giữ. Thế là vừa làm cho nhà Lê được tồn tại, vừa chiếm lấy được An Nam, thật là làm một chuyến mà được hai lợi”.
Tuy vậy việc quỳ khóc này là không xảy ra. Từ chính sử nhà Nguyễn qua đối chiếu các tư liệu từ phía nhà Thanh và Bắc Hành tùng ký của Lê Quýnh thì có rất nhiều điểm khác biệt. Trình bày sẽ khá mất thời gian, các bạn có thể đối chiếu sự kiện trong chuyên khảo “Lê Duy Kỳ đáng thương hay đáng trách” của NDC
Chiêu Thống có cầu viện nhà Thanh nhưng nó không hèn hạ như sử nhà Nguyễn mô tả, thực tế đến cả bản thân Chiêu Thống trong kỳ vọng lớn nhất cũng không hề có hy vọng rằng nhà Thanh sẽ rầm rộ dẫn quân qua như vậy.
Cuộc đời của Lê Chiêu Thống được 28 năm thì có tới 11 năm sống trong cảnh tù ngục, làm vua được tầm 18 tháng trong đó có tầm 1 tháng là do quân Thanh đưa lên, trong cảnh hỗn mang loạn lạc không đủ sức xoay chuyển đất trời, mạng sống không nằm trong tay mình.
Đáng thương không? Thực sự rất đáng thương, nhưng điều đáng thương nhất của cuộc đời Lê Chiêu Thống như lời bàn của Tự Đức, có lẽ đó chính là bản thân bị hãm hại và bôi nhọ nhưng lại còn phải cảm kích đối phương.
Các sử gia nhà Nguyễn đã rất khéo léo trong công tác chép sử của mình để vừa tỏ rõ sự bác ái độ lượng của bản thân mà lại có thể chà đạp lên mặt mũi của hậu nhân nhà Lê không còn gì cả, để khắc họa cái hình ảnh ô nhục một mẹ, một con quỳ lạy gào khóc một cách thảm hại để xin quân Thanh đem quân vào nước, truyền lưu mãi mãi đến hậu thế, ô danh đến ngàn năm.
Điều đó nó còn đáng thương hơn cái chết.

Trả lời